Tăng năng suất nuôi tôm quảng canh

Giải pháp tăng năng suất nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp

Để giúp nâng cao nâng suất mô hình nuôi tôm Quảng canh cải tiến kết hợp người nuôi cần áp dụng một số giải pháp kỹ thuật sau:

Thiết kế hệ thống vuông nuôi

 Xây dựng vuông nuôi bằng cơ giới để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:

– Ao ương: Diện tích từ 500-1.000 m2 , chiếm 5-10 % diện tích nuôi.

– Bờ bao xung quanh: cao hơn mực nước triều cao nhất trong năm, tránh rò rỉ.

– Mương bao: có diện tích chiếm > 30% diện tích vuông nuôi tôm. Độ sâu 1-1,2 m, khoảng cách bờ và mặt trảng 3-5 m. Đảm bảo mực nước trên trảng 0,5-0,6 m. Ngoài mương bao xung quanh vuông nuôi cần thiết kế thêm các mương xương cá chiều rộng từ 1.5-2 m để tăng diện tích trú ẩn cho tôm nuôi khi thời tiết thay đổi và nắng nóng.

– Cống: làm bằng xi măng có từ 1 – 2 cống, khẩu độ 0,6-0,8 m. (Tùy theo vùng mà thiết kế có hay không có cống).

Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, nuoi tom quang canh cai tien, nuoi tom quang canh, nuoi tom quang canh cai tien ket hop
Sơ đồ thiết kế hệ thống ruộng nuôi tôm QCCT

 

Thời vụ thả nuôi:

Có thể thả quanh năm khi đủ độ mặn, tuy nhiên nên tập trung 2 vụ chính trong năm: Vụ  1 vào  tháng 1,2 (DL); vụ 2 tập trung tháng 5,6 (DL).

Tiêu chuẩn chọn giống tôm:

Chọn trại giống có uy tín và nguồn gốc tôm bố mẹ rõ ràng. Ngoài ra cần kiểm tra chất lượng tôm giống trước khi mua theo yêu cầu tại

Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, nuoi tom quang canh cai tien ket hop, nuoi tom quang canh cai tien, nuoi tom quang canh
                                               Những chỉ tiêu khi chọn tôm giống

Quy trình kỹ thuật nuôi tôm quảng canh cải tiến

Chuẩn bị vuông và ao ương

* Cải tạo ao

– Gia cố, đầm nén vuông nuôi chống rò rỉ.
– Vệ sinh toàn bộ khu vực vuông nuôi.
– Tùy theo điều kiện từng vuông, có thể tiến hành sên vét từng phần hoặc toàn bộ. Khi sên vét phải tháo cạn nước đến mức tối đa nhất, sên vét hết lớp bùn đen ở đáy mương bao vào khu chứa bùn. Rải vôi CaCO3 với lượng 500-550 kg/ha hoặc CaO 250-300 kg/ha (vùng đất phèn nặng liều lượng vôi có thể tăng lên gấp đôi).
–  Phơi vuông nuôi có thể kéo dài 7-10 ngày (tùy điều kiện thực tế tuy nhiên trước khi phơi vuông, ruộng nuôi phải bón vôi CaO trên mặt ruộng liều lượng từ 250-300 kg/ha) đến khi mặt trảng có vết nứt chân chim. Trường hợp vuông không phơi được do bị xì phèn, sau khi rãi vôi 1 ngày cấp nước vào.

Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm,Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, nuoi tom quang canh cai tien, nuoi tom quang canh, nuoi tom quang canh cai tien ket hop
                                                                      Vuông nuôi được cải tạo bằng cơ giới
* Diệt tạp
  • Mức nước ở mương ban đầu cần thiết cho diệt cá tạp từ 10-15 cm xử lý dây thuốc cá (5-7 kg/1.000m3) hoặc Saponin (10-15kg/1.000 m3 nước).
  • Đối với độ mặn dưới 15‰ nên dùng dây thuốc cá, trên 15‰ nên dùng Saponin (Dây thuốc cá và Saponin cần được ngâm trước 24 giờ để tăng tính độc và nên sử dụng vào buổi sáng trời nắng tốt).

Cấp nước và xử lý nước vuông và ao ương

* Ao ương trước khi thả giống

– Trước khi cấp nước phải đảm bảo tốt công tác vệ sinh và diệt tạp trong ao ương không có cá tạp và giáp xác.
– Nước từ ao lắng cấp qua túi lọc đảm bảo mức nước đạt 1,0-1,2m. Sau 2-3 ngày có thể diệt khuẩn bằng một trong các hóa chất sau: BKC (1lít/5.000m3), Iodine (1-1,5lít/5.000m3)…

* Công thức gây màu nước cho ao nuôi tôm

+ CT 1: Dùng phân DAP/NPK 2-3 kg/1.000 m3, nên ngâm trước một đêm và tạt đều khắp mặt ao vào 7-8 giờ sáng, có thể sử dụng lặp lại 2 ngày liên tục cho đến khi màu nước đạt yêu cầu (độ trong 30-40 cm).
+ CT 2:

  • Đối với những vuông khó gây màu nước có thể bổ sung thêm bột cá, bột đậu nành, cám mịn với lượng: 2kg bột đậu nành + 1kg cám + 1kg bột cá, nấu chín, sử dụng cho 1.000 m3.
  • Hỗn hợp này có thể ủ với men Saccharomyces spp hoặc EM gốc với liều lượng 0.5-1kg + 03 kg mật đường sử dụng trên 100 lít nước, ủ yếm khí 5-7 ngày. Tạt xuống ao vào buổi sáng 9-10 giờ sáng.
  • Tạt xuống ao hổn hợp này 2-3 ngày liên tiếp, khi màu nước chuyển sang màu đọt chuối hoặc nâu trà, kiểm tra các yếu tố môi trường pH 7.5-8.5 và Kiềm >100 ppm, độ trong (30-40 cm) thì tiến hành thả tôm.

* Chuẩn bị nước trong vuông

– Chọn thời điểm nước tốt thì nhất lấy vào ao thông qua túi lọc để cá tạp không vào được ao.
– Mức nước: ở trảng từ 0,5 – 0,6 m, và ở mương từ 1-1,2 m.
– Gây màu: Tương tự như ở ao ương.

* Thả giống 

Giống thả vào ao ương sau 25 -30 ngày, được chuyển sang vuông nuôi.

* Mật độ và số lần thả

– Mật độ ương từ 40-60 con/m2.
– Mật độ nuôi: 6-8 con/m2/năm. (Lần đầu thả 3 con, lần tiếp theo 1-2 con/m2).
– Số lần thả: 3 lần/năm.

* Phương pháp ương tôm
a. Giai đoạn trước khi thả

– Trước khi tiến hành thả giống, kiểm tra các thông số cơ bản như: pH từ 7,5 – 8,5, độ kiềm từ khoảng 100 – 150 mgCaCO3/lít, độ mặn 10 ‰-25 ‰, độ trong từ 30-40 cm là phù hợp.
– Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Thả tôm vào đầu hướng gió, tại nhiều điểm để tôm dễ phân tán đều khắp ao.
– Trước khi thả tôm 1-2 h nên sử dụng khoáng đa, vi lượng  1-2 kg/1000m3 tạt đều khắp ao ương để tăng cường hàm lượng khoáng trong ao nuôi giúp tôm khỏe mạnh, chống sốc khi thả xuống ao.
– Trước khi tôm chuyển về đến ao, chuẩn bị thùng hoặc thau lớn khoảng 50 lít và máy sục khí. Đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau, cho thêm nước ao vào từ từ kết hợp sục khí để tôm thích nghi dần. Sau 30 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra ngoài. Mục đích giúp tôm thích nghi dần với độ mặn nước ao và các yếu tố môi trường khác.

Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm,Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, nuoi tom quang canh cai tien, nuoi tom quang canh, nuoi tom quang canh cai tien ket hop
Thuần tôm trước khi thả

b. Giai đoạn sau khi thả

* Quản lý chất lượng nước trong nuôi tôm quảng canh cải tiến

– Trong thời ương cần tăng cường quản lý, chăm sóc tôm nuôi, theo dõi các yếu tố môi trường ao ương (pH, độ kiềm) hằng ngày để kịp thời xử lý hiệu quả.

– Không thả tôm khi: 7.5 < pH < 8.5 và dao động vượt quá một đơn vị.

+ pH cao >8.5 sử dụng 0,3-0,5 kg chế phẩm vi sinh + 3-5 kg mật đường/1.000 m3 để ổn định chất lượng nước. Tăng cường đánh đến pH ổn định nằm khoảng (7.5-8.5).
+ pH thấp <7.5 sử dụng CaCO3/Dolomite 20-30 kg/1.000 m3 hoặc vôi đá 10-15 kg/1.000 m3.
+ pH dao động vượt quá 0.5 đơn vị/ngày nên tăng cường đánh vôi Dolomite 15-20 kg/1000 m3 kết hợp chế phẩm vi sinh + 3-5 kg mật đường/1.000 m3 để giảm tảo và ổn định chất lượng nước.
+ Kiềm thấp <100 ppm tăng cường đánh Dolomite 20 kg + Soda bicarbonat 15 kg/1000 m3.

* Quản lý thức ăn

– Theo dõi khả năng tiêu tốn thức ăn của tôm để điều chỉnh cho phù hợp, thông thường lượng thức ăn cho ngày đầu 0,4 – 0,6 kg/100.000 post và tăng lên 50-100 gr cho các ngày tiếp theo (ngày tăng ngày không tăng).

– Cho ăn 2-3 cử ngày bằng thức ăn công nghiệp có độ đạm cao 40%. Định kỳ bổ sung men tiêu hóa và vitamin C, betaglucan, men tiêu hóa giúp tăng cường sức khỏe tôm.

Cách chuyển tôm từ ao ương sang vuông nuôi

– Kiểm tra môi trường cả hai ao (ao ương và vuông) để hạn chế tôm bị sốc: độ mặn, pH, độ kiềm…
– Vuông nuôi cần đảm bảo màu nước, độ trong, các yếu tố môi trường nằm trong ngưỡng thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt.
– Nên chuyển tôm vào chiều tối, thời tiết thuận lợi. Đối với tôm sú chuyển tôm bằng cách đào mương từ ao ương để cho tôm tự qua hoặc chài, đặt lú chuyển sang.
– Trước khi sang tôm 5 – 7 ngày phải bổ sung các loại dinh dưỡng như: Vitamin C, men tiêu hóa, khoáng, …nhằm tăng cường sức đề kháng cho tôm.

Giai đoạn chăm sóc và quản lý tôm ở vuông nuôi

* Thức ăn bổ sung

Thức ăn bổ sung 1-2 lần ăn/ngày. Thức ăn rãi đều xung quanh các đường mương và trảng cho tôm ăn. Quản lý thức ăn thông qua sàng ăn đặt xung quanh ao và theo dõi sức ăn hàng ngày để điều chỉnh kịp thời. Phương pháp cho tôm ăn dựa theo bảng 2

* Sử dụng thức ăn bổ sung: cám gạo và thức ăn viên 

• Phương pháp 1: 
+ Ủ lên men hỗn hợp: 20 kg cám gạo + 3 kg mật đường + chế phẩm vi sinh (Bacillus spp 1.5 x109) liều 0.25-0.5 kg + 100 lít nước ủ hỗn hợp này trong 24 giờ, sử dụng 1 ha mặt nước. Tần suất đánh xuống ao 2 tuần/lần.
+ Thức ăn viên: cho ăn 0,5-1% trọng lượng thân/ngày.

• Phương pháp 2:
+ Ủ lên men hỗn hợp: 20 kg cám gạo + 3 kg mật đường + chế phẩm vi sinh (Bacillus spp 1.5 x109) liều 0.25-0.5 kg + 100 lít nước ủ hỗn hợp này trong 24 giờ, sử dụng 1 ha mặt nước. Tần suất đánh xuống ao 1 tuần/lần.
+ Thức ăn viên: cho ăn 0,5-1% trọng lượng thân/ngày.

*Chú ý áp dụng thức ăn viên khi quan sát thấy tôm đạt tỉ lệ sống >50%

Chất lượng nước

– Định kỳ 1 tuần/lần kiểm tra pH và kiềm, độ mặn, độ trong, TAN (Total Amonium Nitrogen) để có giải pháp can thiệp phù hợp.
– Độ trong từ 30-40 cm, nước có màu vàng nâu hoặc xanh đọt chuối.
– Nếu màu nước nhạt cần bón bổ sung phân DAP/NPK với liều lượng 1-2kg/1.000 m3/lần, lặp lại 2-3 ngày cho đến khi màu nước đạt yêu cầu.
– Nếu màu nước quá đậm thì thay nước từ 20-30% lượng nước trong vuông/ruộng nuôi (xả nước vào buổi chiều và cấp nước vào ban đêm), có thể thay trong nhiều ngày liên tục.
– Cấp nước bổ sung cho ao nuôi khi thật sự cần thiết vì nếu chất lượng nước không đảm bảo tôm dễ bị sốc. Trường hợp cấp nước bổ sung thì mỗi lần cấp 20-30% lượng nước trong vuông/ruộng nuôi.
– Hạn chế thay nước hay hợp cần thiết trước khi thay nước hoặc cấp nước bổ sung nên kiểm tra các yếu tố môi trước nguồn nước cấp đầu vào và tình hình dịch bệnh khu vực xung quanh.
– Mực nước trên trảng luôn giữ tối thiểu 0,6m để đảm bảo ổn định môi trường đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tôm hoạt động trên trảng.
– Định kỳ 10-15 ngày ủ vi sinh EM hoặc sử dụng vi sinh xử lý nước luân phiên giữa vi sinh phân hủy đạm và vi sinh phân hủy H2S để kiểm soát nền đáy ao và chất lượng nước.

Quản lý sức khỏe tôm

– Hàng ngày quan sát hoạt động bắt mồi và sức khỏe của tôm trong ao, xem biểu hiện bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột,…để có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường xử lý kịp thời.
– Trong quá trình nuôi, cần định kỳ 15 ngày/lần kiểm tra tình trạng sức khỏe của tôm bằng cách đặt lú hoặc chài. Quan sát bên ngoài, cân đo trọng lượng và kích thước nhằm kịp thời xử lý khi thấy xuất hiện các dấu hiệu nhiễm bệnh.
– Nếu phát hiện tôm bị các bệnh do virut đốm trắng tiến hành thu hoạch nhanh chóng và công bố dịch bệnh cho vùng nuôi xung quanh.
– Nếu phát hiện tôm có các triệu chứng đứt râu và đen mang, đóng rong thay một phần nước và ổn định chất lượng nước bằng chế phẩm sinh học hoặc xử lý bằng các loại thuốc diệt khuẩn iodine khi điều kiện cho phép.

Thu hoạch

– Tùy theo giá cả mà người nuôi chọn thời điểm thu hoạch cho phù hợp khi tôm đạt kích cỡ. Trước khi thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác của tôm và hạn chế thu khi tôm còn mềm vỏ để tránh tình trạng tôm bán bị rớt giá.
– Sau thời gian 3 tháng nuôi có thể tiến hành thu tỉa những con đạt trọng lượng thương phẩm bằng lú thưa.
– Thu hoạch hàng tháng theo con nước thủy triều.
– Thu hoạch dứt điểm sau mỗi vụ nuôi bằng lú dày đặt ở miệng cống.

Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm,Nuôi tôm, nuôi tôm Quảng canh, nuôi tôm quảng canh cải tiến, kỹ thuật nuôi tôm, nuoi tom quang canh cai tien, nuoi tom quang canh, nuoi tom quang canh cai tien ket hop

Còn rất nhiều kỹ năng đáng được lưu ý và chú trọng để mang lại năng suất tốt nhất cho người chăn nuôi…?
Chúng mình cũng đã cập nhật các loại bệnh khác trên website hãy tham khảo và nghiên cứu kỹ để bội thu trong vụ mùa tôm của chính mình nhé ! Chúc bạn thành công

NGUỒN TÀI LIỆU: THAM KHẢO INTERNET

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận